Posts

Nguyên lý Các cảm biến áp suất

Image
Các cảm biến áp suất thông thường được thiết kế hoạt động dựa trên nguyên lý của sự chênh lệch điện dung. Trong thiết kế này, phần tử cảm biến là một màng kim loại đàn hồi được đặt giữa 2  bề mặt kim loại cố định, tất cả có 3 tấm kim loại tạo thành 2 tụ điện có chung 1 bản cực. Dung môi ( thường là silicone lỏng có thể chuyển động được từ màng cách li sang màng cảm biến và làm thay đổi điện dung của 2 tụ điện. khi có bất kỳ sự chênh lệch áp suất nào sẽ khiến màng cảm biến bị cong về hướng có áp suất thấp hơn. Màng cảm biến có tính đàn hồi và là phần tử được chế tạo tinh vi,chính xác. có nghĩa là nó có chức năng phát hiện lực tác dụng. Áp lực này có thể chỉ là một hàm của sự chênh áp tác động lên một diện tích bề mặt theo công thức về lực, áp suất, tiết diện F = PA.  Trong trường hợp này chúng ta có 2 lực tác động lên màng cảm biến, do đó công thức ở trên có thể đư...

ĐẤU NỐI NHIỆT ĐIỆN TRỞ RTD

Image
Cách kết nối đúng cho cả 3 loại nhiệt điện trở RTD ( 2-dây, 3-dây,và 4-dây) với bộ chuyển đổi transmitter được cấu hình phù hợp được hiển thị như các hình dưới đây: It is critically important to note that the common connections shown by the symbols for 3- and 4-wire RTD sensors represent junction points at the sensor ; not terminals jumpered by the technician at the time of installation, and not internal jumpers inside the transmitter. The whole purpose of having 3-wire and 4-wire RTD circuits is to eliminate errors due to voltage drop along the current-carrying wires, and this can only be realized if the “sensing” wire(s) extend out to the RTD itself and connect there. If the transmitter’s sensing terminal(s) are only jumpered to a current carrying terminal, the transmitter will sense voltage dropped by the RTD plus voltage dropped by the current-carrying wire(s), leading to falsely high temperature indications. Những quan niệm sai lầm trong cách kết nối RTD kh...

CÁC LOẠI CẶP NHIỆT (THERMOCOUPLE)

Image
Cặp nhiệt hay cặp nhiệt điện là một loại cảm biến dùng để đo nhiệt độ. Cặp nhiệt cấu tạo bởi 2 dây kim loại khác nhau và chúng được hàn với nhau ở một đầu tạo thành một điểm giao nhau và đó chính là đầu đo nhiệt. Khi ở điểm nối này có sự thay đổi về nhiệt độ, một điện áp sẽ được tạo ra. Điện áp đó khi đối chiếu với bảng tham chiếu nhiệt độ thì chúng ta có thể xác định được nhiệt độ ở điểm đo. Có rất nhiều loại cặp nhiệt, mỗi loại đều có đặc tính riêng về dải nhiệt độ, độ bền, độ nhạy, tính chất vật lý , khả năng tương thích tùy loại ứng dụng... Loại J, K, T & E là cặp nhiệt ' kim loại thường ', chúng là các loại cặp nhiệt được sử dụng phổ biến nhất. Loại cặp nhiệt R, S, B là cặp nhiệt ' Kim loại quý' , Chúng được sử dụng trong các ứng dụng nhiệt độ cao. Cặp nhiệt được sử dụng rất nhiều trong...

HƯỚNG DẪN HIỆU CHUẨN BỘ CHUYỂN ĐỔI THÔNG MINH ( CALIBRATION SMART TRANSMITTER) - PHẦN 2

Image
ZRange Setting (Re-range)  Range setting (re-ranging) refers to setting the scale for the 4 mA and 20 mA points. This scale is usually referred to as “calibrated range” or “calibration range”. That is, at what input shall the transmitter analog output be 4 mA; Lower Range Value (LRV) often referred to as “zero” meaning 0%, and at what input shall it be 20 mA; Upper Range Value (URV), sometimes called “full scale” meaning 100%. Note that the term “span” is not the same as URV. Span is the magnitude of difference between URV and LRV. For instance, if LRV is 20 and URV is 100, the span is 80. Since Fieldbus, PROFIBUS, and WirelessHART do not use 4-20 mA, range setting is not required for such devices in most applications. Note that calculating what the output current value should be is done in firmware in the transmitter microprocessor. It is a mathematical function. Internally the 4-20 mA/HART transmitter computes: Percentage = (PRIMARY_VARIABLE – LRV) / (URV – LRV) * 100   ...

CẤU TẠO VÀ NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA TRANSMITTER ĐO ÁP SUẤT, CHÊNH ÁP

Image
Các cảm biến áp suất thông thường được thiết kế hoạt động dựa trên nguyên lý đo sự chênh lệch điện dung. Trong thiết kế này, phần tử cảm biến là một màng kim loại đàn hồi được đặt giữa 2  bề mặt kim loại cố định, tất cả có 3 tấm kim loại tạo thành 2 tụ điện có chung 1 bản cực. Dung môi ( thường là silicone lỏng có thể chuyển động được từ màng cách li sang màng cảm biến và làm thay đổi điện dung của 2 tụ điện. Khi có bất kỳ sự chênh lệch áp suất nào sẽ khiến màng cảm biến bị cong về hướng có áp suất thấp hơn. Màng cảm biến có tính đàn hồi và là phần tử được chế tạo tinh vi,chính xác. Có nghĩa là nó có chức năng phát hiện lực tác dụng. Áp lực này có thể chỉ là một hàm của sự chênh áp tác động lên một diện tích bề mặt theo công thức về lực, áp suất, tiết diện F = PA.  Trong trường hợp này chúng ta có 2 lực tác động lên màng cảm biến, do đó công thức ở trên có thể...